Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2017

Nhu cầu lắp đặt điện năng lượng mặt trời sẽ tăng gấp 4

Xu hướng phát triển năng lượng mặt trời toàn cầu trong những năm tới


Theo Tập đoàn Dầu khí Exxon Mobil, nhu cầu tiêu thụ năng lượng toàn cầu sẽ tăng 32% trong năm 2040 do dân số toàn cầu tăng trưởng đòi hỏi gia tăng nhiên liệu phục vụ cho các nhà máy điện và phương tiện vận tải. Khí đốt, tiếp theo là năng lượng hạt nhân và năng lượng tái tạo sẽ phát triển nhất trong hơn 20 năm nữa.

Theo báo cáo “Triển vọng năng lượng toàn cầu: Tầm nhìn đến năm 2040” mới được Tập đoàn Dầu khí Exxon Mobil (Mỹ) công bố, cả tầng lớp trung lưu và GDP toàn cầu sẽ tăng gấp đôi trong 15 năm tới, thúc đẩy nhu cầu sử dụng máy lạnh, xe hơi và các thiết bị khác như tủ lạnh, máy giặt và điện thoại thông minh.

Các nước không thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ sẽ trải nghiệm sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ nhất, kéo theo đó là sự gia tăng đô thị hóa. Trong đó, tiêu thụ năng lượng tại Ấn Độ được dự báo sẽ tăng gấp đôi vào năm 2040. Châu Phi, Mỹ Latinh và Trung Đông cũng sẽ tăng nhu cầu năng lượng trong khi tiêu thụ năng lượng tại Mỹ và châu Âu theo dự báo sẽ giảm.

Dầu mỏ dự kiến vẫn là nguồn năng lượng chính của thế giới, do nhu cầu nhiên liệu vận tải và nguyên liệu cho ngành công nghiệp hóa chất.

Trong các dạng năng lượng, khí đốt tự nhiên dự kiến sẽ tăng mạnh nhất, chiếm 1/4 tất cả nhu cầu năng lượng vào năm 2040. Than đá cũng sẽ vẫn quan trọng, nhưng sẽ mất đi thị phần đáng kể, như là một hệ quả tất yếu khi thế giới đang cố gắng chuyển đổi sang sử dụng các loại năng lượng sạch hơn.




Nhu cầu lắp đặt điện năng lượng mặt trời sẽ tăng gấp 4 lần trong năm . Trong đó, dầu, khí đốt và than sẽ chiếm 78% nguồn cung nhiên liệu toàn cầu năm 2040. Điện sinh khối, thủy điện và năng lượng tái tạo như gió và mặt trời sẽ đóng góp 15% trong tổng cung. Năng lượng hạt nhân sẽ đáp ứng 8% nhu cầu.

Năm cơ sở cho dự báo nhu cầu là năm 2010. Exxon soạn thảo dự báo triển vọng hằng năm để hướng dẫn các quyết định đầu tư trong dài hạn.

Điện khí hóa thế giới

Việc gia tăng điện khí hóa sẽ dẫn dắt tăng trưởng nhu cầu năng lượng toàn cầu trong 25 năm tới, trong đó 55% tăng trưởng nhu cầu năng lượng đến từ các máy phát điện. Sự phát triển của công nghệ số sẽ khiến điện trở thành ngành công nghiệp tăng trưởng cao nhất.

Các ngành khác nhau sẽ sử dụng các loại năng lượng khác nhau dựa trên các lực chọn cung cấp kinh tế của họ và phù hợp với các mục đích khác nhau, nhưng nhu cầu khí tự nhiên được Exxon Mobil dự báo là sẽ tăng đáng kể. Bên cạnh khí tự nhiên, các dạng năng lượng khác như năng lượng hạt nhân và tấm pin năng lượng mặt trời tái tạo cũng đều gia tăng thị phần để phục vụ cho nhu cầu phát điện, bù đắp sự suy giảm của than đá. 

Cụ thể, năng lượng hạt nhân sẽ tăng gấp đôi trong tổng cung năng lượng thế giới năm 2040. Tiêu thụ khí đốt tự nhiên sẽ tăng 62%, thay thế than để trở thành nguồn cung nhiên liệu lớn thứ 2 thế giới sau dầu thô. Theo Báo cáo, tiêu thụ than sẽ giảm 6%.

Châu Á - Thái Bình Dương sẽ tiếp tục là khu vực nhập khẩu khí đốt lớn nhất, với nhu cầu được dự báo là sẽ tăng gấp đôi vào năm 2040. Nhu cầu khí đốt ở châu Âu cũng sẽ tăng trong bối cảnh sản xuất khí đốt ở khu vực này đang có xu hướng giảm. Khí đốt phi truyền thống dự kiến sẽ chiếm 33% tổng sản lượng khí đốt thế giới vào năm 2040.

Bùng nổ thị trường LNG

Để đáp ứng nhu cầu khí đốt ngày càng tăng, nguồn cung xuất khẩu khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) sẽ cần phải đa dạng hóa. Các nhà xuất khẩu LNG chủ chốt trong tương lai sẽ đến từ Mỹ, Canada, Australia và Đông Phi. Trong đó, khu vực Bắc Mỹ dự kiến là sẽ là nhà xuất khẩu LNG lớn nhất do sự tăng trưởng của các nguồn phi truyền thống.

Thị trường LNG sẽ vẫn cạnh tranh cao do nguồn lực dồi dào và nhiều nhà xuất khẩu tiềm năng, vì vậy mà các nguồn cung cấp chi phí thấp hơn sẽ có lợi thế hơn.

Nhu cầu chất lỏng tăng 20%

Nhu cầu đối với các chất lỏng, bao gồm NGL và tất cả các nhiên liệu lỏng được dự đoán sẽ tăng 20% từ nay cho đến năm 2040. Mỹ Latinh, châu Phi, Nga, Trung Đông và Châu Á - Thái Bình Dương sẽ là những nơi có mức gia tăng nhu cầu nhiều nhất. Nhu cầu hóa chất dự kiến sẽ tăng ở mọi khu vực.

Khai thác dầu chặt (tight oil - chỉ loại dầu nhẹ khai thác từ đá rắn chắc (đá phiến sét), ở các vùng nước sâu và từ cát dầu sẽ gia tăng và chiếm hơn 25% các nguồn cung cấp chất lỏng. Mỹ sẽ tiếp tục là nhà sản xuất chính của tất cả các loại dầu chặt vào năm 2040. Tuy nhiên, tiếp tục đầu tư vào dầu thô truyền thống và condensate vẫn sẽ cần thiết với Mỹ, để bù đắp sự suy giảm sản lượng trong các mỏ hiện có.

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2017

Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia và những thách thức



Ngành năng lượng Việt Nam, bên cạnh những thành tựu đạt được, còn tồn tại nhiều bất cập, làm hạn chế không nhỏ tới tiến trình phát triển bền vững về số lượng và chất lượng.

TRẦN VIẾT NGÃI - Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA)

Nhìn lại chặng đường đã qua Ngành Năng lượng Việt Nam có những bước tiến quan trọng, đến nay hệ thống điện quốc gia có tổng công suất khoảng 34.000MW, sản xuất điện năm 2014 khoảng 140 tỷ kWh; than khai thác trên 40 triệu tấn; dầu khai thác khoảng 17 triệu tấn và khí 10 tỷ m3 , năng lượng tái tạo (NLTT) bước đầu khai thác sử dụng hiệu quả.

Ngành năng lượng đã thực sự là động lực cho quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Việt Nam đã xây dựng “Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2020 tầm nhìn đến 2050” từ năm 2007.

Sau hơn bảy năm thực hiện, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả rất đáng ghi nhận. Về phần mình Hiệp hội Năng lượng Việt nam (VEA) rất đồng tình ủng hộ và đã góp phần tích cực thực hiện các mục tiêu Chiến lựơc phát triển năng lượng quốc gia nêu trên.

Tuy nhiên qua triển khai Chiến lược này đã nhận thấy một số bất cập. Một số mục tiêu chiến lược còn thiếu những luận chứng khoa học. Chiến lược chưa thể hiện một cách mạch lạc thông qua quy hoạch năng lượng tổng thể và các quy hoạch các phân ngành.

Nhiều mục tiêu khó đạt được như trong khai thác than, dầu-khí, NLTT, điện hạt nhân (ĐHN). Nội dung sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng (TK&HQ NL) kết quả còn khiêm tốn, tính lan tỏa yếu, còn trông chờ ỷ lại Nhà nước; Cơ cấu tổ chức, xây dựng thị trường năng lượng còn chậm, lúng túng, chưa thực chất.





Ngành Năng lượng Việt Nam có những bước tiến quan trọng, đến nay hệ thống điện quốc gia có tổng công suất khoảng 34.000MW.

Những thách thức và kiến nghị

Về nguồn năng lượng

Nguồn thủy điện, Việt Nam nằm ở khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa vì vậy tổng lượng mưa trung bình khá cao từ 1570 – 2000 mm/năm. Lượng mưa này là nguồn trực tiếp tạo ra dòng chảy; lượng mưa lớn thường tập trung 4 đến 5 tháng trong một năm nên đạt tới 70 – 80% tổng lưu lượng của dòng chảy.

Việt Nam có bờ biển dài khoảng 3260km cũng là điểm cuối cùng của dòng chảy, tổng lượng dòng chảy đổ ra biển (bao gồm cả các nước láng giềng) là khoảng 867 tỷ m3/năm. Với thiên thời địa lợi như vậy, Việt Nam có tiềm năng thủy điện về lý thuyết là dồi dào được phân bổ trên hầu khắp các vùng lãnh thổ.

Hàng năm hơn 2000 sông suối lớn nhỏ có chiều dài trên 10km của Việt Nam có thể sản xuất ra khoảng 300tỷ kWh điện năng tương đương khoảng 150 triệu tấn than. Tổng tiềm năng kỹ thuật được đánh giá vào khoảng 120tỷ kWh với công suất tương ứng khoảng 30.000MW. Tuy nhiên nếu xem xét thêm các yếu tố kinh tế xã hội, tác động đến môi trường và dự báo về biến đổi khí hậu sẽ xẩy ra tại VIệt Nam thì tiềm năng kinh tế kỹ thuật chỉ trong phạm vi 83 ~ 104 tỷ kWh với công suất tương ứng 20.750MW ~ 26.000MW.

Bộ Công Thương tính đến cuối năm 2012 cả nước có 1237 dự án thủy điện với tổng công suất là 25.968,9MW (≈ 26.000MW) đã được quy hoạch. Đây được coi là tiềm năng kinh tế kỹ thuật lớn nhất về thủy điện của Việt Nam.

Thực tế thời gian qua chúng ta xây dựng thủy điện với quy hoạch chưa tốt, đặc biệt là thủy điện vừa và nhỏ chỉ mới chú ý tới hiệu quả phát điện là chính, chưa quan tâm đầy đủ việc sử dụng tổng hợp nguồn nước, chưa chú ý đầy đủ phòng lũ hạ lưu, cũng như quy trình vận hành hệ thống công trình thủy điện bậc thang, thậm chí một số công trình chưa kiểm định đã chạy, thiếu tuân thủ quy định bảo vệ môi trường, trồng rừng thay thế… nên đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng tới chiến lược phát triển xanh và buộc phải loại bỏ nhiều dự án ra khỏi quy hoạch.

Quy hoạch điện VII Việt Nam sẽ khai thác hết các nguồn thủy điện ở dạng tiềm năng kinh tế kỹ thuật vào năm 2017 để đạt được 17.325MW sau đó sẽ xây dựng các nhà máy thủy điện tích năng.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, nơi tập trung nhiều thủy điện nhất là Tây Nguyên, có khoảng 50 dự án, dự kiến sử dụng khoảng 10.000ha rừng. Với những thủy điện sử dụng rừng đầu nguồn, rừng nguyên sinh quốc gia là loại tài sản vô giá, không thể đưa ra phân tích kinh tế - tài chính như các loại tài nguyên khác. Đây là những bài toán đáng suy nghĩ và cần tiếp tục tìm lời giải.

Thủy điện là nguồn năng lượng tái tạo, tuy nhiên ngày nay khai thác thủy điện phải thận trọng về môi trường, môi sinh, phát triển bền vững. Hội thủy điện quốc tế đã đưa ra quan điểm chỉ xây dựng các “Thủy điện bền vững”.

Nguồn than, Quy hoạch ngành than được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2012 cho thấy tổng tài nguyên-trữ lượng than của nước ta, tính đến 1-1-2011 là 48,7 tỷ tấn, trong đó than đá 48,4 tỷ, than bùn 0,3 tỷ tấn. Tài nguyên và trữ lượng huy động vào quy hoạch là 7,2 tỷ tấn, trong đó than đá 7tỷ và than bùn 0,2 tỷ tấn.

Nguồn than Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH), tuy được đánh giá có tiềm năng lớn, nhưng chưa thể đưa vào quy hoạch. Theo quy hoạch, sản lượng khai thác than có thể đạt như sau. Năm 2012:45-47 triệu tấn; 2015:55-58 triệu tấn Năm 2020: 60-65 triệu tấn; 2025:66-70 triệu tấn; 2030:75 triệu tấn.

Riêng bể than ĐBSH, Quy hoạch than đến 2012 chỉ mới ghi: Lựa chọn một số diện tích chứa than có triển vọng, có điều kiện địa chất-mỏ thích hợp để tiến hành thăm dò trong kỳ kế hoạch 2012-15 phục vụ việc đầu tư khai thác thử nghiệm vào cuối kế hoạch; phấn đấu đến 2030 hoàn thành công tác thăm dò phần diện tích chứa than có điều kiện khai thác thuận lợi thuộc vùng Khoái Châu-Tiền Hải; đến 2020 có sản lượng 0,5-1 triệu tấn, 2025: 2 triệu; 2030: khoảng 10 triệu tấn.

Nhiều chuyên gia cho rằng quy hoạch đối với than ĐBSH là chậm,chưa thoả đáng. Đã vậy,cho tới nay kế hoạch khai thác thử nghiệm vẫn còn thảo luận,”Thần than” ĐBSH chắc nhỡ “chuyến tàu” công nghiệp hoá đất nước! Vấn đề nhập than chủ yếu cho sản xuất điện mấy năm qua được đề cập khá nhiều, tuy nhiên chưa có giải pháp nào chắc chắn.

Theo dự báo của những quy hoạch điện than hiện có, yêu cầu nhập than với số lượng ngày càng lớn, đây là vấn đề mà nhiều chuyên gia đã kiến nghị cần rà soát lại, có thật sự cần phải nhập hàng trăm triệu tấn không.

Mặt khác viêc nhập than với khối lượng lớn là không dễ, nhiều nước cũng có nhu cầu nhập. Bởi vậy cần được nghiên cứu kỹ lưỡng từ nguồn than, tính ổn định, giá cả, xây dựng cơ sở hạ tầng để tiếp nhận, kể cả việc đầu tư ra nước ngoài để có than.

Thời gian qua, ngành than được đánh giá là chậm đổi mới công nghệ, một số chính sách đối với công nhân hầm mỏ chưa thoả đáng, khó nâng cao và phát triển đội ngũ này. Nếu nhà nước, các ngành liên quan không quan tâm đầy đủ thì tính bền vững và an ninh năng lượng khó đảm bảo.

Nguồn dầu-khí, theo đánh giá của ngành dầu-khí, trữ lượng dầu-khí của Việt nam có thể thu hồi là 3,8-4,2 tỷ tấn dầu quy đổi (TOE), trữ lượng đã được xác minh khoảng 1,05-1,14 tỷ TOE, trong đó khí đốt chiếm trên 60%.

Dự báo khả năng khai thác dầu-khí giai đoạn tới 2030, kể cả đầu tư ra nước ngoài như sau: 2010 2015 2020 2025 2030 Dầu thô Phương án cơ sở (triệu tấn) 19,86 20,0 20,7 21,7 22,0 Trong đó nội địa 19,16 17 16,3 16,2 16 Khí đốt (tỷ m3) 8 11 17 17 17 Nguồn dầu-khí trong nước, với mức độ hiểu biết hiện nay, rõ ràng rất hạn chế, không thể đảm cho nhu cầu.

Các nhà hoạch định chính sách cũng đã nhìn thấy bất cập này; Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) cũng đang nỗ lực tìm giải pháp khắc phục, trong đó kể cả đầu tư ra nước ngoài để bổ sung sản lượng dầu.

Tuy nhiên chúng ta cũng nhìn nhận một số hạn chế: thiếu đồng bộ của quy hoạch phát triển dầu-khí so với quy hoạch điện, than, quy hoạch, kế hoạch cung cấp khí cho một số công trình chậm như điện đạm Cà Mau, Ô Môn...

Gần đây, câu chuyện nhập khí tự nhiên hoá lỏng (LNG) được nhiều người quan tâm, với mục đích bổ sung nguồn nhiên liệu có khả năng thiếu hụt, thay thế than, giảm phát thải khí nhà kính (KNK), đây là quan điểm, ý đồ rất tích cực.

Tuy nhiên cũng cần nghiên cứu tính toán kỹ lưỡng, hiện nay giá LNG là 15-16 USD/1triệu BTU (tại châu Á giá vào giữa 2014), nếu dùng cho nhà máy điện sử dụng công nghệ chu trình kết hợp khí-hơi hiện đại nhất, chi phí riêng LNG để sản xuất 1kWh sẽ khoảng 11,5USc, tương đương giá điện gió hiện nay ở Việt Nam!

Ngoài ra để nhập LNG cần phải chuẩn bị cơ sở hạ tầng từ cảng, đường ống, kho bãi....Vấn đề này chúng tôi thiết nghĩ, cũng như nhập than, cần được xem xét tổng thể hơn, kỹ lưỡng hơn trong Quy hoạch năng lượng tổng thể, để làm rõ hơn vai trò của LNG trong cân bằng năng lượng quốc gia, lúc nào nên nhập và nhập bao nhiêu là hợp lý.

Nguồn năng lượng tái tạo (NLTT), Việt Nam được đánh giá có tiềm năng năng NLTT lớn, tuy nhiên đến nay tài liệu, số liệu khảo sát, đo đạc còn thiếu và độ tin cậy thấp, về thể chế đã có quan tâm nhưng chưa đủ để khuyến khích đầu tư, phát triển sử dụng.