Thứ Hai, 23 tháng 1, 2017

Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia và những thách thức



Ngành năng lượng Việt Nam, bên cạnh những thành tựu đạt được, còn tồn tại nhiều bất cập, làm hạn chế không nhỏ tới tiến trình phát triển bền vững về số lượng và chất lượng.

TRẦN VIẾT NGÃI - Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA)

Nhìn lại chặng đường đã qua Ngành Năng lượng Việt Nam có những bước tiến quan trọng, đến nay hệ thống điện quốc gia có tổng công suất khoảng 34.000MW, sản xuất điện năm 2014 khoảng 140 tỷ kWh; than khai thác trên 40 triệu tấn; dầu khai thác khoảng 17 triệu tấn và khí 10 tỷ m3 , năng lượng tái tạo (NLTT) bước đầu khai thác sử dụng hiệu quả.

Ngành năng lượng đã thực sự là động lực cho quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Việt Nam đã xây dựng “Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2020 tầm nhìn đến 2050” từ năm 2007.

Sau hơn bảy năm thực hiện, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả rất đáng ghi nhận. Về phần mình Hiệp hội Năng lượng Việt nam (VEA) rất đồng tình ủng hộ và đã góp phần tích cực thực hiện các mục tiêu Chiến lựơc phát triển năng lượng quốc gia nêu trên.

Tuy nhiên qua triển khai Chiến lược này đã nhận thấy một số bất cập. Một số mục tiêu chiến lược còn thiếu những luận chứng khoa học. Chiến lược chưa thể hiện một cách mạch lạc thông qua quy hoạch năng lượng tổng thể và các quy hoạch các phân ngành.

Nhiều mục tiêu khó đạt được như trong khai thác than, dầu-khí, NLTT, điện hạt nhân (ĐHN). Nội dung sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng (TK&HQ NL) kết quả còn khiêm tốn, tính lan tỏa yếu, còn trông chờ ỷ lại Nhà nước; Cơ cấu tổ chức, xây dựng thị trường năng lượng còn chậm, lúng túng, chưa thực chất.





Ngành Năng lượng Việt Nam có những bước tiến quan trọng, đến nay hệ thống điện quốc gia có tổng công suất khoảng 34.000MW.

Những thách thức và kiến nghị

Về nguồn năng lượng

Nguồn thủy điện, Việt Nam nằm ở khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa vì vậy tổng lượng mưa trung bình khá cao từ 1570 – 2000 mm/năm. Lượng mưa này là nguồn trực tiếp tạo ra dòng chảy; lượng mưa lớn thường tập trung 4 đến 5 tháng trong một năm nên đạt tới 70 – 80% tổng lưu lượng của dòng chảy.

Việt Nam có bờ biển dài khoảng 3260km cũng là điểm cuối cùng của dòng chảy, tổng lượng dòng chảy đổ ra biển (bao gồm cả các nước láng giềng) là khoảng 867 tỷ m3/năm. Với thiên thời địa lợi như vậy, Việt Nam có tiềm năng thủy điện về lý thuyết là dồi dào được phân bổ trên hầu khắp các vùng lãnh thổ.

Hàng năm hơn 2000 sông suối lớn nhỏ có chiều dài trên 10km của Việt Nam có thể sản xuất ra khoảng 300tỷ kWh điện năng tương đương khoảng 150 triệu tấn than. Tổng tiềm năng kỹ thuật được đánh giá vào khoảng 120tỷ kWh với công suất tương ứng khoảng 30.000MW. Tuy nhiên nếu xem xét thêm các yếu tố kinh tế xã hội, tác động đến môi trường và dự báo về biến đổi khí hậu sẽ xẩy ra tại VIệt Nam thì tiềm năng kinh tế kỹ thuật chỉ trong phạm vi 83 ~ 104 tỷ kWh với công suất tương ứng 20.750MW ~ 26.000MW.

Bộ Công Thương tính đến cuối năm 2012 cả nước có 1237 dự án thủy điện với tổng công suất là 25.968,9MW (≈ 26.000MW) đã được quy hoạch. Đây được coi là tiềm năng kinh tế kỹ thuật lớn nhất về thủy điện của Việt Nam.

Thực tế thời gian qua chúng ta xây dựng thủy điện với quy hoạch chưa tốt, đặc biệt là thủy điện vừa và nhỏ chỉ mới chú ý tới hiệu quả phát điện là chính, chưa quan tâm đầy đủ việc sử dụng tổng hợp nguồn nước, chưa chú ý đầy đủ phòng lũ hạ lưu, cũng như quy trình vận hành hệ thống công trình thủy điện bậc thang, thậm chí một số công trình chưa kiểm định đã chạy, thiếu tuân thủ quy định bảo vệ môi trường, trồng rừng thay thế… nên đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng tới chiến lược phát triển xanh và buộc phải loại bỏ nhiều dự án ra khỏi quy hoạch.

Quy hoạch điện VII Việt Nam sẽ khai thác hết các nguồn thủy điện ở dạng tiềm năng kinh tế kỹ thuật vào năm 2017 để đạt được 17.325MW sau đó sẽ xây dựng các nhà máy thủy điện tích năng.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, nơi tập trung nhiều thủy điện nhất là Tây Nguyên, có khoảng 50 dự án, dự kiến sử dụng khoảng 10.000ha rừng. Với những thủy điện sử dụng rừng đầu nguồn, rừng nguyên sinh quốc gia là loại tài sản vô giá, không thể đưa ra phân tích kinh tế - tài chính như các loại tài nguyên khác. Đây là những bài toán đáng suy nghĩ và cần tiếp tục tìm lời giải.

Thủy điện là nguồn năng lượng tái tạo, tuy nhiên ngày nay khai thác thủy điện phải thận trọng về môi trường, môi sinh, phát triển bền vững. Hội thủy điện quốc tế đã đưa ra quan điểm chỉ xây dựng các “Thủy điện bền vững”.

Nguồn than, Quy hoạch ngành than được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2012 cho thấy tổng tài nguyên-trữ lượng than của nước ta, tính đến 1-1-2011 là 48,7 tỷ tấn, trong đó than đá 48,4 tỷ, than bùn 0,3 tỷ tấn. Tài nguyên và trữ lượng huy động vào quy hoạch là 7,2 tỷ tấn, trong đó than đá 7tỷ và than bùn 0,2 tỷ tấn.

Nguồn than Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH), tuy được đánh giá có tiềm năng lớn, nhưng chưa thể đưa vào quy hoạch. Theo quy hoạch, sản lượng khai thác than có thể đạt như sau. Năm 2012:45-47 triệu tấn; 2015:55-58 triệu tấn Năm 2020: 60-65 triệu tấn; 2025:66-70 triệu tấn; 2030:75 triệu tấn.

Riêng bể than ĐBSH, Quy hoạch than đến 2012 chỉ mới ghi: Lựa chọn một số diện tích chứa than có triển vọng, có điều kiện địa chất-mỏ thích hợp để tiến hành thăm dò trong kỳ kế hoạch 2012-15 phục vụ việc đầu tư khai thác thử nghiệm vào cuối kế hoạch; phấn đấu đến 2030 hoàn thành công tác thăm dò phần diện tích chứa than có điều kiện khai thác thuận lợi thuộc vùng Khoái Châu-Tiền Hải; đến 2020 có sản lượng 0,5-1 triệu tấn, 2025: 2 triệu; 2030: khoảng 10 triệu tấn.

Nhiều chuyên gia cho rằng quy hoạch đối với than ĐBSH là chậm,chưa thoả đáng. Đã vậy,cho tới nay kế hoạch khai thác thử nghiệm vẫn còn thảo luận,”Thần than” ĐBSH chắc nhỡ “chuyến tàu” công nghiệp hoá đất nước! Vấn đề nhập than chủ yếu cho sản xuất điện mấy năm qua được đề cập khá nhiều, tuy nhiên chưa có giải pháp nào chắc chắn.

Theo dự báo của những quy hoạch điện than hiện có, yêu cầu nhập than với số lượng ngày càng lớn, đây là vấn đề mà nhiều chuyên gia đã kiến nghị cần rà soát lại, có thật sự cần phải nhập hàng trăm triệu tấn không.

Mặt khác viêc nhập than với khối lượng lớn là không dễ, nhiều nước cũng có nhu cầu nhập. Bởi vậy cần được nghiên cứu kỹ lưỡng từ nguồn than, tính ổn định, giá cả, xây dựng cơ sở hạ tầng để tiếp nhận, kể cả việc đầu tư ra nước ngoài để có than.

Thời gian qua, ngành than được đánh giá là chậm đổi mới công nghệ, một số chính sách đối với công nhân hầm mỏ chưa thoả đáng, khó nâng cao và phát triển đội ngũ này. Nếu nhà nước, các ngành liên quan không quan tâm đầy đủ thì tính bền vững và an ninh năng lượng khó đảm bảo.

Nguồn dầu-khí, theo đánh giá của ngành dầu-khí, trữ lượng dầu-khí của Việt nam có thể thu hồi là 3,8-4,2 tỷ tấn dầu quy đổi (TOE), trữ lượng đã được xác minh khoảng 1,05-1,14 tỷ TOE, trong đó khí đốt chiếm trên 60%.

Dự báo khả năng khai thác dầu-khí giai đoạn tới 2030, kể cả đầu tư ra nước ngoài như sau: 2010 2015 2020 2025 2030 Dầu thô Phương án cơ sở (triệu tấn) 19,86 20,0 20,7 21,7 22,0 Trong đó nội địa 19,16 17 16,3 16,2 16 Khí đốt (tỷ m3) 8 11 17 17 17 Nguồn dầu-khí trong nước, với mức độ hiểu biết hiện nay, rõ ràng rất hạn chế, không thể đảm cho nhu cầu.

Các nhà hoạch định chính sách cũng đã nhìn thấy bất cập này; Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) cũng đang nỗ lực tìm giải pháp khắc phục, trong đó kể cả đầu tư ra nước ngoài để bổ sung sản lượng dầu.

Tuy nhiên chúng ta cũng nhìn nhận một số hạn chế: thiếu đồng bộ của quy hoạch phát triển dầu-khí so với quy hoạch điện, than, quy hoạch, kế hoạch cung cấp khí cho một số công trình chậm như điện đạm Cà Mau, Ô Môn...

Gần đây, câu chuyện nhập khí tự nhiên hoá lỏng (LNG) được nhiều người quan tâm, với mục đích bổ sung nguồn nhiên liệu có khả năng thiếu hụt, thay thế than, giảm phát thải khí nhà kính (KNK), đây là quan điểm, ý đồ rất tích cực.

Tuy nhiên cũng cần nghiên cứu tính toán kỹ lưỡng, hiện nay giá LNG là 15-16 USD/1triệu BTU (tại châu Á giá vào giữa 2014), nếu dùng cho nhà máy điện sử dụng công nghệ chu trình kết hợp khí-hơi hiện đại nhất, chi phí riêng LNG để sản xuất 1kWh sẽ khoảng 11,5USc, tương đương giá điện gió hiện nay ở Việt Nam!

Ngoài ra để nhập LNG cần phải chuẩn bị cơ sở hạ tầng từ cảng, đường ống, kho bãi....Vấn đề này chúng tôi thiết nghĩ, cũng như nhập than, cần được xem xét tổng thể hơn, kỹ lưỡng hơn trong Quy hoạch năng lượng tổng thể, để làm rõ hơn vai trò của LNG trong cân bằng năng lượng quốc gia, lúc nào nên nhập và nhập bao nhiêu là hợp lý.

Nguồn năng lượng tái tạo (NLTT), Việt Nam được đánh giá có tiềm năng năng NLTT lớn, tuy nhiên đến nay tài liệu, số liệu khảo sát, đo đạc còn thiếu và độ tin cậy thấp, về thể chế đã có quan tâm nhưng chưa đủ để khuyến khích đầu tư, phát triển sử dụng.